trangchu lienhe
menu_con1 Đôi điều về Tôn đồ dòng họ Lê Quang
menu_con1 Bản tôn đồ dòng họ Lê Quang
menu_con1 Giới thiệu trang web tôn dồ họ Lê Quang
menu_con1 Địa chỉ bà con dòng ho Lê Quang
menu_con1 GIỚI THIỆU
menu_con1 VĂN TẾ ĐỨC THỦY TỔ TIỀN HIỀN HỌ LÊ QUANG
menu_con1 THÂN THẾ SỰ NGHIỆP ĐỨC THỦY TỔ TIỀN HIỀN
menu_con1 Sắc phong triều đình
menu_con1 Ảnh nhà thờ ông bà chi hiện tại
menu_con1 Ảnh mộ gia đình ông bà Lê Quang Đạt
menu_con1 Ảnh nhà thờ tiền hiền
menu_con1 Chùm ảnh mồ mã ông bà các đời
menu_con1 Hình ảnh khác
menu_con1 Hình ảnh gia đình ông bà Lê Quang Bút
menu_con1 Hình ảnh gia đình ông bà Lê Quang Quyền
menu_con1 Hình ảnh gia đình ông bà Lê Nguyên
menu_con1 Ảnh Lê Nguyễn Thy Thy nhận bằng tốt nghiệp Bác sĩ - ĐH Y khoa
menu_con1 Gia đình Lê Quang Ngọ (con thứ 10)
menu_con1 Gia đình Lê Thị Cậy (con thứ 8)
menu_con1 Gia đình Lê Quang Nhờ (con thứ 7)
menu_con1 Gia đình Lê Quang Giúp (con thứ 5)
menu_con1 Gia đình Lê Thị Dùm (con thứ 4)
menu_con1 Gia đình Lê Quang Trợ (con thứ 3)
menu_con1 Gia đình Lê Thị Kiểm (con thứ 2)
menu_con1 Ảnh ông bà Lê Quang Đạt
menu_con1 Hình ảnh khác
menu_con1 Giáo dục con cái
menu_con1 Kỹ năng hòa nhập xã hội
menu_con1 Tư vấn học hành
menu_con1 Tư vấn CNTT
menu_con1 Tư vấn máy chụp hình kỹ thuật số
menu_con1 Tư vấn thiết bị di động
menu_con1 Tư vấn tình yêu hôn nhân
menu_con1 Tư vấn ẩm thực Việt Nam
menu_con1 Tư vấn dụng cụ gia đình
menu_con1 Tư vấn du lịch
menu_con1 Tư vấn kiến thức vị thành niên
menu_con1 Tư vấn trang điểm phụ nữ
menu_con1 Tư vấn nhà đất
menu_con1 Tư vấn pháp luật
menu_con1 Tư vấn sức khỏe
menu_con1 Những trang web cần quan tâm
menu_con1 tư vấn du học - học bổng
menu_con1 Kinh nghiệm làm ăn
menu_con1 Tết cổ truyền Việt Nam
menu_con1 Tuyển sinh Đại học
menu_con1 Kinh nghiệm và kỷ thuật nuôi trồng thủy sản
menu_con1 Kinh nghiệm và kỷ thuật chăn nuôi động vật
menu_con1 Kinh nghiệm và kỷ thuật trồng trọt
menu_con1 Ẩm thực Việt Nam
THÂN THẾ SỰ NGHIỆP ĐỨC THỦY TỔ TIỀN HIỀN
Cai trị phó tướng Quảng Khê Hầu

Đầu thế kỷ 15 ( 1407 ) nhà Minh ( Trung Quốc) xâm lược và đô hộ nước ta.

Dưới ách thống trị hà khắc và  vô cùng tàn bạo của bọn xâm lược, nhân dân ta không chịu kíếp làm trâu ngựa, nhiều cuộc khỏi nghĩa giành lại độc lập dân tộc nổ ra, trong đó nỗi lên cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo. Đức thủy  tổ họ Lê đã sớm tham gia cuộc khởi nghĩa đó từ hội thề Lũng Nhai cho đến khi giành được thắng lợi hoàn toàn ( 1928 ) lập nên triều Đại nhà Lê  trị vì hơn 300 năm.

Đức thủy tổ họ Lê húy là Đại, tục danh “ ông Gốc”. Ông sinh vào khoản đầu thế kỷ 15 ( 1400 ) ở làng Mía, nay là thôn Thạnh Mỹ, xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (1). Cha mẹ mất sớm, ông đi làm gia thần cho Lê Lợi, khi Lê Lợi còn mai danh ẩn tích, tụ hội anh hùng hào kiệt, nuôi chí khôi phục non sông, ông theo hầu cận Vu  tư hội thề Lũng Nhai ( 1416 ). Cho đến khi khởi nghĩa Lam Sơn, ông được giao nhiệm vụ trinh sát nắm địch tình cung cấp cho nghĩa quân tránh và đánh địch. Ông được nêu danh là trinh sát mưu mẹo, tài ba. Khi nghĩa quân còn non yếu hơn bốn lần bị vây quét ở núi Chí Linh, quân sĩ tan tác, lại bị đói phải ăn củ chuối rau rừng hàng 3 tháng liền, ông vẫn là người nghĩa khi can trường, chịu đựng gian khổ, trung thành hết mực, không nao lòng nản chí. Khoảng năm 1424 ( giáp thìn ) ông được Bình Định Vương Lê Lợi giao cho giữ chức tổng giám sát các việc trong nội bộ, ngoài quân doanh. Cuối năm 1426 ( Bính Ngọ) ông được phái cùng các tướng ra các lộ miền Đông Bắc, giải phóng cá lộ Thiên Tường, Tân Hưng, Khoái Châu. Cuối năm 1426 ông cùng các tướng đánh Thành Tam Giang. Sau khi đánh tan đội quân tiếp viện từ Vân Nam sang cứu viện, ông vây thành và bức hàng, giải phòng toàn bộ miến Tây Bắc.

Tháng 7 năm Đinh Mùi ( 1427 ) ông cùng các tướng được phái lên Ải lê Hoa ( Lào Cai, Tuyên Quang) làm nhiệm vụ kiềm chế cánh quân Minh 5 vạn lên từ Vân Nam, phối hợp cùng với cánh chủ lực do liểu Thăng cầm đầu từ Lạng Sơn kéo sang cứu viện và giải vây cho Thành Đông Quan ( hà Nội ) bị vây hảm. Khi được tin cánh quân của Liểu Thăng bị tiêu diệt, cánh quân Vân Nam đang đêm rút chạy, Ông cùng các tướng tung quân đánh đuổi diệt trên một vạn tên, bắt sống hàng nghìn ngườ, ngựa.

Thế cùng năm Mậu Thân, tháng chạp ( 1428), quân xâm lược nhà Minh đầu hàng xin rút quân về nước. Từ đây đất nước hoàn toàn giải phóng, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế lấy tên là Thuận Thiên, đặt tên nước là Đại Việt, bình công và ban chức tước cho công thần. Vì có công từ hội Lũng Nhai – Khởi nghĩa Lam Sơn và trong suốt 10 năm chiến đấu ông được đặc ân ban quốc tính họ Hoàng tộc. Tôn vinh khai quốc công thần và tặng huyện hầu ( bậc 5 ) lấy hiệu là Quảng kê Hầu – ông từng đảm nhiệm các chức vụ Tả Long hộ vệ thượng tướng quân, Đô đốc Bình Chương quân quốc sự, Tham tri chính sự. Năm Hồng Đức thứ 3 ( 1472) Ông theo vua Lê Thánh Tôn bình định phía Nam và được giao giử chức Cai tri Phó tướng. Sau khi đánh chiếm bình định ( các châu Amaramasi ( Quảng ngãi ), Vipaya ( Bình Định và Phú Yên). Ông xin ở lại, được giao trấn nhậm và quy dân lập ấp khai hoang lập đồn điền Toàn An, Tổng ba Châu, huyện Mộ Hoa, thuộc Quảng nam thừa tuyên. Theo gia phả họ Lê tại đây, đã khai khẩn 300 mẫu, Châu lư 38 mẫu, Long bàn 28 mẫu sung làm công điền, công thổ theo luật thời bấy giờ.

Tại Toàn An ông sinh hai con: Trưởng là Mậu Tài Hầu lập thành phái nhất, thứ là Vệ Tài Ba lập thành phái nhì.

Sau khi ông qua đời di hài được an táng tại Đồng Xe, thôn Năng An, xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Lăng mộ được xây cất lại năm Thành Thái thứ 2 ( 1891). 

Mộ chí được khắc câu đối:

                   Huân minh bả thế bất thiên

                   Thạch chí thiên niên hữu vĩnh.

Dịch là:        Công đức sáng trăm đời chẳng đổi

                   Đá tạc ghi nghìn năm vẫn bền.

Bên trong ghi câu:

                   Chấn cố hữu quang

                   Kim chung y thủy ( thĩ)

Dịch là:        Vang động ngàn xưa sáng tỏ

                   Mãi mãi đến cùng như xưa

Tương truyền đó là những câu chữ do triều đình ban tặng cho vị công thần hết mực trung nghĩa với dân với nước và triều chính.

Ngoài mộ có hai câu đối ghi ở trụ biểu giới hạn:

                   Hướng giáp phụng sơn triều

                   ( Hướng Đông ( Đông phương giáp ất Mộc) có núi phụng chầu)

                   Toạ canh lonh Thúy nhiễu

( nằm ở phương Tây ( Tây phương canh tân kim) có sông Rồng ( sông Vệ) tô điểm).

Từ khi vào Nam kiến nghiệp năm 1472 trải qua nhiều thế kỷ, con cháu nối nhiệp ngày càng đông, phân phái, phân chi, chia nhánh, chia cành di trú nhiều nơi trong nước và ngoài nước. trong họ tộc có nhiều vị đỗ đạt cao, nhận lãnh những trọng trách của xã hội.

Với lòng hiếu thảo, ghi nhớ công ơn sinh thành dưởng dục, với truyền thống phẩm chất tốt đẹp của dòng họ, hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch con cháu các nơi đều tề tựu về cúng viếng tổ tiên.


Thực hiện trang web: Lê Quang Ngọ - Điện thoại: (0773).829.136 - 0913.964.736
Email: thptvinhthuan@gmail.com – sun001@tondodongholequang.net