Cai trị phó tướng
Quảng Khê Hầu
Đầu thế kỷ 15 (
1407 ) nhà Minh ( Trung Quốc) xâm lược và đô hộ nước ta.
Dưới ách thống trị hà khắc
và vô cùng tàn bạo của bọn xâm lược,
nhân dân ta không chịu kíếp làm trâu ngựa, nhiều cuộc khỏi nghĩa giành lại độc
lập dân tộc nổ ra, trong đó nỗi lên cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi và Nguyễn
Trãi lãnh đạo. Đức thủy tổ họ Lê đã sớm
tham gia cuộc khởi nghĩa đó từ hội thề Lũng Nhai cho đến khi giành được thắng
lợi hoàn toàn ( 1928 ) lập nên triều Đại nhà Lê
trị vì hơn 300 năm.
Đức thủy tổ họ
Lê húy là Đại, tục danh “ ông Gốc”. Ông sinh vào khoản đầu thế kỷ 15 ( 1400 ) ở
làng Mía, nay là thôn Thạnh Mỹ, xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
(1). Cha mẹ mất sớm, ông đi làm gia thần cho Lê Lợi, khi Lê Lợi còn mai danh ẩn
tích, tụ hội anh hùng hào kiệt, nuôi chí khôi phục non sông, ông theo hầu cận
Vu tư hội thề Lũng Nhai ( 1416 ). Cho đến khi khởi nghĩa Lam Sơn, ông được giao nhiệm vụ trinh
sát nắm địch tình cung cấp cho nghĩa quân tránh và đánh địch. Ông được nêu danh
là trinh sát mưu mẹo, tài ba. Khi nghĩa quân còn non yếu hơn bốn lần bị vây quét
ở núi Chí Linh, quân sĩ tan tác, lại bị đói phải ăn củ chuối rau rừng hàng 3
tháng liền, ông vẫn là người nghĩa khi can trường, chịu đựng gian khổ, trung
thành hết mực, không nao lòng nản chí. Khoảng năm 1424 ( giáp thìn ) ông được
Bình Định Vương Lê Lợi giao cho giữ chức tổng giám sát các việc trong nội bộ,
ngoài quân doanh. Cuối năm 1426 ( Bính Ngọ) ông được phái cùng các tướng ra các
lộ miền Đông Bắc, giải phóng cá lộ Thiên Tường, Tân Hưng, Khoái Châu. Cuối năm
1426 ông cùng các tướng đánh Thành Tam Giang. Sau khi đánh tan đội quân tiếp
viện từ Vân Nam sang cứu viện, ông vây thành và bức hàng, giải phòng toàn bộ
miến Tây Bắc.
Tháng 7 năm Đinh
Mùi ( 1427 ) ông cùng các tướng được phái lên Ải lê Hoa ( Lào Cai, Tuyên Quang)
làm nhiệm vụ kiềm chế cánh quân Minh 5 vạn lên từ Vân Nam, phối hợp cùng với
cánh chủ lực do liểu Thăng cầm đầu từ Lạng Sơn kéo sang cứu viện và giải vây
cho Thành Đông Quan ( hà Nội ) bị vây hảm. Khi được tin cánh quân của Liểu
Thăng bị tiêu diệt, cánh quân Vân Nam đang đêm rút chạy, Ông cùng các tướng
tung quân đánh đuổi diệt trên một vạn tên, bắt sống hàng nghìn ngườ, ngựa.
Thế cùng năm Mậu
Thân, tháng chạp ( 1428), quân xâm lược nhà Minh đầu hàng xin rút quân về nước.
Từ đây đất nước hoàn toàn giải phóng, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế lấy tên là Thuận
Thiên, đặt tên nước là Đại Việt, bình công và ban chức tước cho công thần. Vì
có công từ hội Lũng Nhai – Khởi nghĩa Lam Sơn và trong suốt 10 năm chiến đấu
ông được đặc ân ban quốc tính họ Hoàng tộc. Tôn vinh khai quốc công thần và
tặng huyện hầu ( bậc 5 ) lấy hiệu là Quảng kê Hầu – ông từng đảm nhiệm các chức
vụ Tả Long hộ vệ thượng tướng quân, Đô đốc Bình Chương quân quốc sự, Tham tri
chính sự. Năm Hồng Đức thứ 3 ( 1472) Ông theo vua Lê Thánh Tôn bình định phía
Nam và được giao giử chức Cai tri Phó tướng. Sau khi đánh chiếm bình định ( các
châu Amaramasi ( Quảng ngãi ), Vipaya ( Bình Định và Phú Yên). Ông xin ở lại,
được giao trấn nhậm và quy dân lập ấp khai hoang lập đồn điền Toàn An, Tổng ba
Châu, huyện Mộ Hoa, thuộc Quảng nam thừa tuyên. Theo gia phả họ Lê tại đây, đã
khai khẩn 300 mẫu, Châu lư 38 mẫu, Long bàn 28 mẫu sung làm công điền, công thổ
theo luật thời bấy giờ.
Tại Toàn An ông
sinh hai con: Trưởng là Mậu Tài Hầu lập thành phái nhất, thứ là Vệ Tài Ba lập
thành phái nhì.
Sau khi ông qua
đời di hài được an táng tại Đồng Xe, thôn Năng An, xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức,
tỉnh Quảng Ngãi. Lăng mộ được xây cất lại năm Thành Thái thứ 2 ( 1891).
Mộ chí được khắc
câu đối:
Huân minh bả thế bất thiên
Thạch chí thiên niên hữu
vĩnh.
Dịch là: Công đức sáng trăm đời chẳng đổi
Đá tạc ghi nghìn năm vẫn bền.
Bên trong ghi
câu:
Chấn cố hữu quang
Kim chung y thủy ( thĩ)
Dịch là: Vang động ngàn xưa sáng tỏ
Mãi mãi đến cùng như xưa
Tương truyền đó
là những câu chữ do triều đình ban tặng cho vị công thần hết mực trung nghĩa
với dân với nước và triều chính.
Ngoài mộ có hai
câu đối ghi ở trụ biểu giới hạn:
Hướng giáp phụng sơn triều
( Hướng Đông ( Đông phương
giáp ất Mộc) có núi phụng chầu)
Toạ canh lonh Thúy nhiễu
( nằm ở phương
Tây ( Tây phương canh tân kim) có sông Rồng ( sông Vệ) tô điểm).
Từ khi vào Nam
kiến nghiệp năm 1472 trải qua nhiều thế kỷ, con cháu nối nhiệp ngày càng đông,
phân phái, phân chi, chia nhánh, chia cành di trú nhiều nơi trong nước và ngoài
nước. trong họ tộc có nhiều vị đỗ đạt cao, nhận lãnh những trọng trách của xã
hội.
Với lòng hiếu
thảo, ghi nhớ công ơn sinh thành dưởng dục, với truyền thống phẩm chất tốt đẹp
của dòng họ, hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch con cháu các nơi đều tề tựu
về cúng viếng tổ tiên.
|